TÌM KIẾM THÔNG TIN

   Hỗ trợ trực tuyến

Administrator

   Số lượt truy cập

414533
    LIÊN KẾT WEBSITE
 
 
free counters
Chuyên mục: Sử-Công dân  
Ngày đưa tin: 28/11/2009    

Khu giải phóng Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống Pháp

Khu giải phóng Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống Pháp

                

                 Trên cơ sở những căn cứ địa cách mạng đã lần lượt thành lập ở Việt Bắc và căn cứ vào những báo cáo nghị quyết của Hội nghị Quân sự Bắc kì (15-4-1945) , Hồ Chí Minh đã ra chỉ thị “Nay vùng giải phóng ở miền ngược đã bao gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang, Thái Nguyên, đại thể nối liền nhau, nên thành lập một căn cứ lấy tên là Khu giải phóng”. Người còn bàn với Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Lương Bằng làm bản dự thảo về việc thành lập Khu giải phóng và quyết định triệu tập Hội nghị cán bộ toàn Khu để thống nhất lãnh đạo và phát triển công tác.

                 Thực hiện chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, ngày 04-6-1945, Tổng bộ Việt Minh triệu tập Hội nghị cán bộ và tuyên bố chính thức thành lập Khu giải phóng bao gồm hai căn cứ lớn trên địa bàn 6 tỉnh : Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang, Thái Nguyên và một số vùng thuộc ngoại vi tỉnh Bắc Giang, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái .

                 Trong Khu giải phóng, các Ủy ban nhân dân do dân cử được hình thành, tổ chức thực hiện 10 chính sách lớn của Việt Minh. Khu giải phóng với gần 1 triệu người gồm nhiều dân tộc khác nhau thực sự là “hình ảnh nước Việt Nam mới”, cùng hệ thống các chiến khu trong cả nước tạo thành hậu phương và bàn đạp cho thế trận Tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng 8-1945.

                 Khu giải phóng có địa bàn đại để tương đương với vùng căn cứ địa Việt Bắc. Vì vậy, căn cứ địa Việt Bắc có những điều kiện thuận lợi nào thì Khu giải phóng cũng có những điều kiện thuận lợi như vậy. Khu giải phóng có đầy đủ các điều kiện thuận lợi về địa lý, kinh tế và nhân dân , trong đó điều kiện nhân dân là quyết định.

                 Khu giải phóng được xây dựng trên một vùng rộng lớn, địa hình chủ yếu là núi rừng. Phía Bắc  giáp Trung Quốc. Vùng biên giới Việt-Trung là nơi cách mạng hoạt động rất thuận lợi và qua đây có thể liên lạc với phong trào Cộng sản quốc tế. Lực lượng cách mạng Việt Nam và cách mạng Trung Quốc có thể nương tựa vào nhau hoạt động. Phía Nam là vùng trung du, đồng bằng . Do đó, gặp thời cơ thuận lợi, lực lượng vũ trang cách mạng có thể tiến nhanh phát huy thắng lợi và nếu gặp khó khăn có thể lui về để bảo toàn lực lượng. Theo các triền núi phía Đông, Khu giải phóng có thể liên lạc với biển và Hải Phòng. Theo các triền núi phía Tây, có thể liên lạc với khu Tây Bắc và các tỉnh miền núi Trung bộ. Tóm lại, Khu giải phóng có vị trí rất cơ động , “tiến có thể đánh”, “lui có thể giữ”.Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì một phiên họp của Chính phủ tại chiến khu Việt Bắc

                Về điều kiện nhân dân, thành lập Khu giải phóng ở Việt Bắc thật là đặc biệt thuận lợi. Nhân dân các dân tộc Việt Bắc có truyền thống lâu đời và rất vẻ vang, cùng đoàn kết chặt chẽ bên nhau để đấu tranh dựng nước và giữ nước. Nhân dân các dân tộc Việt Bắc cũng như nhân dân cả nước khát khao độc lập tự do, khát khao một cuộc sống hạnh phúc. Cho nên, khi Đảng ra đời và lãnh đạo cách mạng thì nhân dân các dân tộc Việt Bắc nhanh chóng tiếp thu đường lối cách mạng của Đảng, kiên quyết đi theo con đường cách mạng mà Đảng đã vạch ra. Do vậy, Khu giải phóng được nằm trong sự bảo bọc, che chở của nhân dân. Đây là một trong những yếu tố quyết định đảm bảo cho Khu giải phóng được an toàn trong suốt thời kì lãnh đạo nhân dân cả nước tiến hành Tổng khởi nghĩa.

                  Khu giải phóng được xây dựng trên nền tảng của căn cứ địa Việt Bắc. Phương châm xây dựng căn cứ địa Việt Bắc là từ nhỏ đến lớn, từ ít đến nhiều, từ chưa hoàn chỉnh đến hoàn chỉnh, từ bí mật ra công khai.

                  Lúc đầu những năm 1940-1941, Đảng mới có chủ trương xây dựng hai trung tâm căn cứ Băc Sơn- Võ Nhai và Cao Bằng. Các trung tâm này được xây dựng ở những nơi có cơ sở Đảng, cơ sở quần chúng của Đảng và phong trào cách mạng tương đối mạnh hơn ở nơi khác. Tới năm 1943, xây dựng thêm một trung tâm căn cứ địa nữa là Đại Từ- Định Hóa- Sơn Dương- Yên Sơn. Các trung tâm căn cứ địa dần dần được mở rộng và nối liền nhau, thành căn cứ địa cách mạng rộng lớn bao gồm 6 tỉnh Cao-Bắc-Lạng,Hà-Tuyên-Thái và một số vùng thuôc địa phận các tỉnh lân cận. Lúc bắt đầu xây dựng, các trung tâm căn cứ địa mới có cơ sở Đảng, cơ sở quần chúng cách mạng và một lực lượng nhỏ tự vệ, du kích trang bị vũ khí thô sơ và chưa có chính quyền cách mạng. Dựa trên sự giác ngộ, sự phát triển của các cơ sở quần chúng cách mạng, phong trào cách mạng ngày càng lan rộng và mạnh, lực lượng vũ trang cách mạng thoát ly cũng không ngừng lớn mạnh. Trước cao trào kháng Nhật cứu nước, ở trong căn cứ địa Việt Bắcmới có tổ chức Đảng, mặt trận Việt Minh và một số đơn vị vũ trang thoát ly. Trong cao trào, nhiều cuộc khởi nghĩa từng phần nổ ra, chính quyền cách mạng các địa phương ra đời từ xã, huyện cho đến tỉnh rồi Khu giải phóng được thành lập.

                  Như vậy là Khu giải phóng hình thành trên nền tảng căn cứ địa cách mạng, đi từ chưa hoàn chỉnh dần trở nên hoàn chỉnh, có Đảng lãnh đạo, có mặt trận Việt Minh, có chính quyền cách mạng và lực lựong vũ trang cách mạng. Đồng thời, căn cứ địa cách mạng được bắt tay xây dựng ngay về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa xã hội. Khu giải phóng thực sự trở thành “ trụ sở” của cách mạng  Việt Nam. Từ đây, nhiều quyết sách quan trọng của Đảng đã đi vào lịch sử; và cũng từ đây , các nhà lãnh đạo của cách mạng Việt Nam đã lèo lái con thuyền cách mạng vượt qua bao sóng to gió lớn để đi tới thắng lợi cuối cùng.  

 


Các tin khác :

 
Bản quyền thuộc trường THPT Phan Bội Châu, Khánh Hòa
Điện thoại : (058) 3856481
Email : c3pbchau@khanhhoa.edu.vn
 
 
Liên hệ
Admin: hungcr@gmail.com
Gởi bài: thptpbchau@gmail.com